Có những địa danh không chỉ được ghi trên bản đồ mà còn được khắc sâu trong ký ức dân tộc. Cù lao Ông Hổ là một nơi như thế, bởi đây là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của An Giang, người cộng sản đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng và hạnh phúc của Nhân dân.
Giữa màu xanh miệt vườn, Đền tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng hiện lên trầm mặc bên dòng Hậu Giang. Mái đền mang dáng dấp kiến trúc truyền thống Việt Nam, hòa quyện với nét đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ, tạo nên một tổng thể vừa trang nghiêm, vừa gần gũi với quê hương đã sinh thành Người.
Công trình được khởi công ngày 21/5/1997 và khánh thành ngày 20/8/1998, đúng dịp kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Bác Tôn. Đền có tổng diện tích 1.600m², trong đó chính điện rộng 110m². Con số 110 gắn với dấu mốc kỷ niệm Ngày sinh của Người, đồng thời thể hiện lòng thành kính của quê hương và Nhân dân đối với nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam.
Bước qua ngưỡng đền, nhịp sống thường nhật dường như lắng lại. Không gian thanh tĩnh của miền quê, vẻ trầm mặc của kiến trúc và những dấu ấn văn hóa được gửi gắm trong từng chi tiết khiến người hành hương cảm nhận rõ hơn chiều sâu lịch sử. Tại đây, quá khứ không nằm yên trong ký ức mà hiện diện như một lời nhắc nhở đối với hiện tại.
Hơn một thế kỷ kể từ ngày Bác Tôn sinh ra trên Cù lao Ông Hổ và hơn bốn thập niên kể từ ngày Người đi xa, quê hương vẫn gìn giữ hình bóng Người bằng những giá trị sống động. Đền tưởng niệm không chỉ là nơi phụng thờ, tưởng niệm, mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống, nơi các thế hệ tìm về để hiểu hơn về cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách của một người cộng sản kiên trung.
Ở Đền tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, kiến trúc vừa tạo nên vẻ đẹp vừa trở thành ngôn ngữ biểu đạt những giá trị văn hóa, lịch sử và nhân cách. Mỗi đường nét, mỗi hình tượng đều được gửi gắm ý nghĩa, tạo nên sự giao hòa giữa hồn quê An Giang với hồn thiêng đất nước.
Lối vào đền gồm hai cấp hành lang, lần lượt có 9 và 7 bậc, tượng trưng cho quy luật âm - dương hòa quyện và gửi gắm ước vọng về cuộc sống thanh bình, yên ấm của Nhân dân. Cách tổ chức không gian ấy khiến bước chân vào đền cũng trở thành một hành trình chuyển từ đời thường sang không gian tưởng niệm.
Hệ thống bao lam bên trong được chạm khắc công phu. Hai con rồng chầu cuốn thư khắc tên “Tôn Đức Thắng” theo lối chữ giả cổ. Phía dưới là những thân tre chắc khỏe vươn cao, gợi hình ảnh làng quê Việt Nam và biểu trưng cho ý chí kiên cường, trung dũng, bất khuất của con người trước thử thách.
Đỡ toàn bộ bao lam là hình tượng “cá hóa long”, gợi khát vọng vươn lên và sức mạnh vượt qua thử thách. Phần vách phía trên được chạm khắc các loài hoa sen, cúc, mai, lan, biểu trưng cho vẻ đẹp thanh cao, trong sáng và thanh bạch, những phẩm chất nổi bật trong nhân cách Chủ tịch Tôn Đức Thắng.
Tại chính điện, tượng bán thân Chủ tịch Tôn Đức Thắng được đúc bằng đồng nguyên chất, nặng 310kg. Phía sau tượng là bức bình phong sơn mài màu son đỏ, điểm xuyết hình tượng trống đồng Ngọc Lũ, biểu tượng của cội nguồn văn hóa và hồn thiêng sông núi Việt Nam. Trên trần đền, hình mây trời được đắp nổi, tạo cảm giác quang minh, trong sáng; các diềm tường được chạm họa tiết “Ngũ phúc lâm môn” gồm Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh, thể hiện những ước vọng tốt đẹp của Nhân dân.
Giá trị trường tồn của công trình còn được thể hiện qua vật liệu. Toàn bộ phần gỗ, kể cả những mảng chạm thảm gỗ, sử dụng gỗ giáng hương quý hiếm có niên đại khoảng 400-500 năm. Nền đền được lát bằng đá granite đặc trưng của vùng Bảy Núi, An Giang. Công trình là kết quả của sự hội tụ tâm huyết giữa các kiến trúc sư Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh và những nghệ nhân tài hoa đến từ TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và An Giang.
Từ gỗ giáng hương quý hiếm, đá Bảy Núi đến tre của làng quê, hình rồng, hoa sen và trống đồng, những biểu tượng giàu sức gợi của văn hóa Việt Nam cùng hội tụ dưới mái đền. Sự kết hợp ấy làm cho công trình vượt lên ý nghĩa của một kiến trúc tưởng niệm, trở thành không gian văn hóa, nơi hồn quê An Giang hòa quyện với truyền thống dân tộc.
Giá trị sâu xa nhất của ngôi đền không nằm ở sự đồ sộ của công trình, mà nằm ở cuộc đời và sự nghiệp của người được tưởng niệm. Từ Cù lao Ông Hổ, Tôn Đức Thắng bước vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước và cách mạng, rồi trở thành một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Từ người thợ Ba Son đến người chiến sĩ cộng sản, từ những năm tháng đấu tranh và tù đày ở Côn Đảo đến những trọng trách cao nhất của đất nước, cuộc đời Bác Tôn luôn nhất quán với mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân và lý tưởng cách mạng. Những năm tháng gian lao không khuất phục được ý chí mà càng tôi luyện bản lĩnh và phẩm chất của Người.
Ở Bác Tôn, bản lĩnh của người lãnh đạo luôn đi cùng sự khiêm nhường; lòng trung thành với lý tưởng cách mạng luôn gắn với tình yêu thương con người; vị trí cao trong Đảng và Nhà nước không làm phai nhạt phẩm chất giản dị của một người lao động. Người cống hiến trọn đời nhưng không màng danh lợi, gánh vác trọng trách lớn nhưng luôn gần dân, trọng dân và đặt lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.
Chính sự nhất quán giữa lý tưởng và hành động đã làm nên tầm vóc đặc biệt của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Cuộc đời Người trở thành bài học lớn về đạo đức cách mạng: kiên định trước thử thách, tận tụy với công việc, trong sạch trong đời sống, khiêm nhường trong ứng xử và luôn đặt lợi ích chung lên trên hết.
Kỷ niệm 138 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng là dịp tưởng nhớ một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một người con ưu tú của An Giang, còn là khẳng định sức sống của những giá trị mà Người đã dành trọn đời vun đắp. Trong hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, tấm gương của Bác Tôn tiếp tục nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân về trách nhiệm với đất nước, với Nhân dân và với những giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Đứng trước tượng Người trong chính điện, giữa không gian lắng đọng của Cù lao Ông Hổ, mỗi người càng thấm thía rằng thời gian có thể làm đổi thay cảnh vật, nhưng không thể làm phai mờ một nhân cách được tôi luyện bằng lý tưởng và được chứng minh bằng cả cuộc đời phụng sự Nhân dân. Bác Tôn đã đi xa, nhưng tấm gương đạo đức và khí phách của Người vẫn hiện diện trong đời sống hôm nay, như một chuẩn mực để các thế hệ soi mình và tiếp nối.
Kỷ niệm Người không chỉ bằng những lời tri ân, mà bằng hành động tiếp nối lý tưởng và trách nhiệm dựng xây tương lai. Từ Cù lao Ông Hổ, ngọn lửa trung thành với Tổ quốc, kiên định với lý tưởng và tận tụy phục vụ nhân dân mà Bác Tôn đã thắp lên vẫn cần được trao truyền bằng những cống hiến cụ thể, để nhân cách và khí phách của Người tiếp tục soi sáng con đường xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.