An Giang trước cơ hội đưa nuôi biển thành ngành kinh tế lớn
1. Từ lợi thế biển, đảo đến dư địa phát triển mới
Không gian biển, đảo rộng lớn đang mở ra dư địa phát triển kinh tế biển cho An Giang trong giai đoạn mới. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh có diện tích tự nhiên 9.889km², tạo sự kết nối giữa không gian kinh tế vùng đồng bằng sông Tiền, sông Hậu với vùng biển Tây. Trong bức tranh ấy, nuôi biển được xác định là một lĩnh vực có nhiều tiềm năng và lợi thế.
Theo báo cáo tham luận của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang tại hội thảo “Phát triển bền vững nuôi biển tỉnh An Giang giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045” ngày 27/10/2026, vùng biển của tỉnh rộng khoảng 63.290km², đường bờ biển dài trên 200km, có hơn 140 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó khoảng 40-45 đảo có dân cư sinh sống. Phú Quốc, Nam Du, Kiên Hải, Bà Lụa, Hải Tặc và Thổ Châu tạo thành không gian biển, đảo đa dạng, với điều kiện tự nhiên và khả năng tổ chức sản xuất khác nhau.
Vùng biển Tây Nam thuộc vịnh Thái Lan có độ sâu trung bình khoảng 25-30m, tương đối kín gió và ít chịu tác động của sóng lớn tại nhiều khu vực. Nhiệt độ nước ấm, độ mặn tương đối ổn định là những điều kiện thuận lợi cho nhiều đối tượng thủy sản sinh trưởng.
Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên không đồng nghĩa mọi khu vực đều thích hợp với cùng một mô hình nuôi. Theo định hướng của ngành nông nghiệp tỉnh, việc lựa chọn vị trí, đối tượng, hình thức và mật độ nuôi phải căn cứ vào đặc điểm thủy động lực, chất lượng nước và sức tải môi trường của từng vùng. Đây là điều kiện quan trọng để tránh phát triển tự phát, gây áp lực lên môi trường và làm giảm hiệu quả sản xuất về lâu dài.
Nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học cũng là nền tảng đáng chú ý. Ngư trường An Giang ghi nhận khoảng 600 loài cá biển; hệ thống bãi giống tự nhiên có tổng diện tích khoảng 18.005ha. Các khu vực có nguồn lợi đáng kể gồm bãi nghêu lụa, sò huyết, sò lông ở Kiên Lương; bãi nghêu lụa Bà Lụa; bãi cá mú Kiên Hải; bãi mực lá và ghẹ tại Bãi Vòng, Cây Sao.
Cùng với đó, Khu bảo tồn biển Phú Quốc có diện tích hơn 40.909ha, với hai hệ sinh thái chính là thảm cỏ biển và rạn san hô. Những hệ sinh thái này vừa có giá trị đa dạng sinh học, vừa góp phần duy trì môi trường sống và tái tạo nguồn lợi thủy sản.
Bởi vậy, phát triển nuôi biển không thể tách rời nhiệm vụ bảo vệ biển. Nếu sản xuất chỉ tập trung vào sản lượng trước mắt mà xem nhẹ chất lượng nước, nguồn giống tự nhiên và khả năng tiếp nhận chất thải của môi trường, chính những lợi thế đang tạo sức hút cho ngành nuôi biển có thể bị suy giảm.
Một lợi thế khác là khả năng kết nối thị trường. Hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, giao thông đường biển, dịch vụ hậu cần và logistics đang từng bước được đầu tư, hoàn thiện. Trục đô thị biển Rạch Giá - Hà Tiên - Phú Quốc có điều kiện kết nối với thị trường trong nước, Campuchia và các quốc gia ven vịnh Thái Lan, tạo cơ hội hình thành chuỗi cung ứng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nuôi biển.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào chuyển những lợi thế về không gian, tài nguyên và kết nối thành năng lực sản xuất có tổ chức, tạo ra sản phẩm ổn định về chất lượng, có giá trị gia tăng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
2. Sản lượng tăng nhanh, nhưng mô hình sản xuất cần chuyển đổi
Những năm qua, nuôi biển tại An Giang đã có bước phát triển đáng kể. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, sản lượng nuôi biển toàn tỉnh tăng từ 69.269 tấn năm 2021 lên khoảng 133.000 tấn năm 2026. Tốc độ tăng trưởng bình quân theo số liệu tổng hợp đạt 13,9%/năm. Tổng giá trị sản xuất nuôi biển giai đoạn 2021-2026 ước đạt 2.700 tỉ đồng, tính theo giá so sánh năm 2010.
Đằng sau mức tăng trưởng này là sự phát triển của nhiều nhóm đối tượng nuôi, từ cá lồng bè ven đảo đến nhuyễn thể ven biển và trai cấy ngọc.
Đối với cá lồng bè, số lượng lồng nuôi tăng từ 3.612 lồng năm 2021 lên 5.150 lồng năm 2025 và ước đạt 6.115 lồng năm 2026. Sản lượng cá nuôi tăng từ 3.090 tấn năm 2021 lên 5.650 tấn năm 2025, dự kiến đạt khoảng 7.000 tấn năm 2026.
Ở nhóm nhuyễn thể ven biển, diện tích nuôi tăng từ 20.203ha năm 2021 lên 24.650ha năm 2025, dự kiến đạt 24.950ha năm 2026. Sản lượng năm 2026 dự kiến đạt 113.156 tấn. Trong khi đó, hoạt động nuôi trai cấy ngọc tại Phú Quốc duy trì diện tích khoảng 300ha, sản lượng thu hoạch ổn định ở mức khoảng 350.000 viên ngọc trai mỗi năm.
Những kết quả này cho thấy nuôi biển đã trở thành một hoạt động sản xuất quan trọng tại nhiều địa bàn ven biển, hải đảo. Tuy nhiên, quy mô sản xuất tăng lên cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức tổ chức ngành.
Theo báo cáo, phần lớn cơ sở nuôi vẫn sử dụng phương thức truyền thống. Việc ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn còn hạn chế. Một số vùng nuôi ven biển, ven đảo phân tán, cần tiếp tục rà soát, bố trí và sắp xếp theo hướng tập trung, phù hợp quy hoạch và sức tải môi trường.
Đây không đơn thuần là câu chuyện thay vật liệu lồng bè hay đầu tư thêm thiết bị. Chuyển đổi nuôi biển đòi hỏi đồng thời nhiều yếu tố: quy hoạch không gian nuôi, lựa chọn đối tượng phù hợp, kiểm soát môi trường, tổ chức nguồn giống, nâng cao năng lực vận hành và tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Những rủi ro từ môi trường và thị trường cũng đang tác động trực tiếp đến người nuôi. Biến đổi khí hậu, mưa lớn, nắng nóng kéo dài, gió mạnh, triều cường và hiện tượng tảo nở hoa làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh, sự cố môi trường và thiệt hại sản xuất. Trong khi đó, giá vật tư, thức ăn và các đầu vào có xu hướng tăng, còn giá bán sản phẩm biến động, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng tái đầu tư.
Liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu chưa chặt chẽ. Việc xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc cũng cần được quan tâm hơn. Nguồn nhân lực chuyên môn về nuôi biển còn thiếu, năng lực tiếp cận và vận hành công nghệ mới giữa các nhóm người nuôi chưa đồng đều.
Vì thế, tăng trưởng sản lượng mới chỉ phản ánh một phần kết quả. Để nuôi biển trở thành ngành kinh tế có sức cạnh tranh, An Giang cần chuyển từ cách phát triển dựa nhiều vào mở rộng quy mô sang mô hình coi trọng năng suất, chất lượng, hiệu quả đầu tư và khả năng chống chịu trước rủi ro.
Những con số đáng chú ý của nuôi biển An Giang
3. Công nghệ và đầu tư: chìa khóa mở rộng quy mô
Một trong những hướng đi được An Giang đặt ra là thúc đẩy nuôi biển công nghiệp, từng bước ứng dụng công nghệ cao và tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại. Trong giai đoạn 2021-2026, tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ, nghiên cứu và thu hút đầu tư, tạo cơ sở cho quá trình chuyển đổi.
Thông qua chương trình khuyến nông, tỉnh hỗ trợ 117 lồng nuôi bằng vật liệu HDPE, triển khai các mô hình nuôi cá mú trân châu, cá bớp và cá chim vây vàng đạt chứng nhận VietGAP. Cơ quan chuyên môn đã cấp 382 mã số nhận diện cơ sở nuôi lồng bè, tổ chức 87 lớp tập huấn về nuôi biển với 2.670 lượt cán bộ và người dân tham gia.
Trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu triển khai 10 đề tài, dự án phục vụ phát triển nuôi biển, gồm 9 nhiệm vụ cấp tỉnh và một nhiệm vụ cấp cơ sở, với tổng kinh phí 18,4 tỉ đồng. Các nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số đối tượng như ghẹ xanh, ốc hương, vẹm xanh, cá ngựa và cá bè quỵt.
Đây là những bước chuẩn bị quan trọng, bởi công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng quy trình sản xuất phù hợp, khả năng cung ứng đầu vào và năng lực của người vận hành. Với các cơ sở nuôi quy mô nhỏ, việc chuyển đổi còn phụ thuộc vào chi phí đầu tư, khả năng tiếp cận vốn và mức độ phù hợp của công nghệ với điều kiện thực tế.
Ở góc độ đầu tư, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp nuôi biển công nghệ cao, với tổng diện tích hơn 2.908ha và tổng vốn đầu tư 1.116 tỉ đồng.
Đáng chú ý, UBND tỉnh đã giao khu vực biển diện tích 420ha tại đặc khu Kiên Hải cho Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam triển khai dự án nuôi biển công nghệ cao, công suất dự kiến 30.000 tấn cá mỗi năm, tổng vốn đầu tư 400 tỉ đồng. Theo báo cáo của sở, đây là doanh nghiệp đầu tiên được giao khu vực biển theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017.
Bên cạnh đó, danh mục dự án thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030 của tỉnh có 8 dự án nuôi biển, tổng diện tích 2.480ha, với tổng vốn kêu gọi đầu tư 1.730 tỉ đồng theo Quyết định số 2864/QĐ-UBND ngày 22-6-2026.
Các con số cho thấy tỉnh đang mở rộng không gian thu hút nguồn lực vào lĩnh vực nuôi biển. Tuy nhiên, để các dự án tạo hiệu ứng lan tỏa, vấn đề không chỉ là thu hút được vốn mà còn là khả năng kết nối các dự án với hệ sinh thái sản xuất tại địa phương: nguồn cung giống, thức ăn, dịch vụ kỹ thuật, hậu cần, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ.
Tại hội thảo ngày 27/10/2026, các tham luận cũng đề cập những hướng tiếp cận công nghệ và mô hình tổ chức sản xuất khác nhau. PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, trình bày về cơ hội và giải pháp công nghiệp hóa ngành nuôi biển tại An Giang. Tham luận của ông Nguyễn Tất Hoàn đề xuất sử dụng, hoán cải tàu cá cũ để làm du lịch kết hợp tạo vùng nuôi tự nhiên; đồng thời giới thiệu các phương án sử dụng vật liệu composite, thép và cao su trong chế tạo cụm nuôi biển công nghiệp.
Đây là các đề xuất từ tham luận, không đồng nghĩa những mô hình này đã được triển khai hoặc chứng minh hiệu quả tại An Giang. Giá trị của các ý tưởng nằm ở việc gợi mở thêm phương án kỹ thuật để cơ quan quản lý, nhà đầu tư và người nuôi tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tính phù hợp, chi phí, an toàn và tác động môi trường trước khi áp dụng.
Một hướng khác là ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và giải pháp tài chính cho ngành nuôi biển, được ThS. Nguyễn Tiến Long đề cập trong bài trình bày tại hội thảo. Cùng với việc lựa chọn vật liệu và thiết kế lồng nuôi, các công cụ theo dõi môi trường, cảnh báo sớm, quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc có thể trở thành những thành phần quan trọng của mô hình nuôi biển hiện đại khi đáp ứng được điều kiện kỹ thuật và hiệu quả kinh tế.
Theo định hướng của tỉnh, quá trình chuyển đổi cần được thực hiện theo lộ trình, ưu tiên lồng HDPE, tự động hóa, quan trắc môi trường và cảnh báo sớm tại các khu vực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Điều đó cũng đồng nghĩa không thể áp dụng một mô hình công nghệ giống nhau cho mọi vùng biển, mọi đối tượng nuôi hay mọi quy mô hộ sản xuất.
4. Chọn đúng đối tượng nuôi, tổ chức lại không gian biển
Nếu công nghệ quyết định phương thức sản xuất thì việc lựa chọn đối tượng nuôi và bố trí không gian sẽ quyết định phần nào khả năng phát triển lâu dài của ngành nuôi biển.
Trong tham luận “Một số đối tượng nuôi biển có tiềm năng tại tỉnh An Giang”, PGS.TS Võ Văn Nha, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, nhấn mạnh việc lựa chọn đối tượng nuôi cần dựa trên khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái, khả năng chủ động nguồn giống, mức độ hoàn thiện công nghệ nuôi thương phẩm, hiệu quả kinh tế và nhu cầu thị trường.
Theo tham luận, nhóm cá biển có thể ưu tiên tiếp nhận, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ gồm cá chẽm, cá bớp, cá chim vây vàng và một số loài cá mú. Đây là nhóm đối tượng được đề cập theo hướng phát triển sản phẩm có giá trị thương mại cao.
Với nhóm da gai, các đối tượng được nêu gồm cầu gai sọ dừa, cầu gai đen, hải sâm cát và hải sâm đen. Nhóm giáp xác có ghẹ xanh Hàm Ninh, tôm hùm xanh; nhóm động vật thân mềm có mực An Thới, trai ngọc nữ, hàu; nhóm rong biển có rong hải tùng, rong nho.
Tuy nhiên, tham luận cũng lưu ý những đối tượng hải sản đặc trưng cần tiếp tục được đầu tư hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh. Vì vậy, danh sách các loài có tiềm năng không nên được hiểu là danh mục có thể triển khai nuôi đại trà ngay lập tức.
Chủ động nguồn giống là một khâu quan trọng. Nếu công nghệ sản xuất giống chưa hoàn thiện hoặc nguồn cung chưa ổn định, việc mở rộng diện tích nuôi thương phẩm có thể gặp khó khăn về chi phí, chất lượng đầu vào và khả năng duy trì sản xuất. Tương tự, một đối tượng có giá trị kinh tế cao vẫn cần được xem xét trên cơ sở thị trường tiêu thụ, công nghệ nuôi và mức độ phù hợp với môi trường từng vùng.
Từ góc độ quản lý, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường định hướng phân vùng nuôi biển theo đặc điểm của từng khu vực. Vùng hải đảo như Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu, Tiên Hải, Sơn Hải và Hòn Nghệ được định hướng ưu tiên phát triển cá lồng bè công nghệ cao, nhất là lồng tròn HDPE; nuôi trai ngọc, ốc hương, tôm hùm xanh, bào ngư, rong biển và các đối tượng phù hợp. Việc kết hợp nuôi biển với du lịch sinh thái, trải nghiệm được đặt ra khi đáp ứng yêu cầu về môi trường và an toàn.
Ở vùng ven biển, gồm các khu vực Vân Khánh, Đông Hưng, Tân Thạnh, Tây Yên, Hòn Đất, Kiên Lương, Tô Châu và những địa bàn phù hợp, tỉnh định hướng tổ chức các vùng nuôi nhuyễn thể tập trung như sò huyết, hàu, vẹm xanh, nghêu lụa, sò lông. Việc phát triển sản xuất cần gắn với bảo vệ môi trường, rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven bờ.
Cách tiếp cận này đặt quy hoạch không gian biển vào vị trí trung tâm. Vùng nuôi cần được bố trí phù hợp với luồng hàng hải, cảng biển, khu neo đậu, du lịch, bảo tồn và các khu vực quốc phòng, an ninh; tránh tình trạng phát triển tự phát hoặc chồng lấn công năng sử dụng biển.
Một nội dung khác được TS. Hoàng Xuân Bền, Viện Hải dương học, đề cập trong tham luận về kinh nghiệm quốc tế đối với nuôi biển tự nhiên và đề xuất cho An Giang. Đây là hướng tiếp cận có thể bổ sung góc nhìn về việc kết hợp khai thác giá trị tự nhiên với phát triển kinh tế biển, nhưng cần được đánh giá cụ thể theo điều kiện sinh thái và yêu cầu quản lý tại từng địa bàn.
Đối với An Giang, bài toán không phải chọn giữa nuôi biển công nghiệp và bảo tồn tự nhiên. Yêu cầu đặt ra là xác định khu vực, đối tượng và phương thức sản xuất phù hợp, bảo đảm các hoạt động kinh tế không làm suy giảm nền tảng sinh thái của vùng biển.
Những nhóm đối tượng nuôi biển tiềm năng
5. Tăng trưởng xanh, hướng tới trung tâm nuôi biển hiện đại
Theo Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 2/4/2026, An Giang đặt mục tiêu chuyển đổi hoạt động nuôi biển theo hướng công nghiệp, hiện đại và bền vững. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu đạt tổng sản lượng 250.000 tấn hải sản và 520.000 viên ngọc trai. Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng An Giang trở thành trung tâm nuôi biển hiện đại, xanh, thông minh và bền vững, đóng góp vào phát triển kinh tế biển của tỉnh và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Để hiện thực hóa mục tiêu, tỉnh định hướng phát triển 14.000 lồng nuôi cá lồng bè, trong đó khoảng 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao, với sản lượng dự kiến 99.000 tấn. Diện tích nuôi nhuyễn thể dự kiến đạt 26.900ha, sản lượng 151.000 tấn. Giá trị sản xuất nuôi biển đặt mục tiêu đạt 19.487 tỉ đồng theo giá hiện hành; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026-2030 là 24,3%/năm. Ngành nuôi biển dự kiến thu hút hơn 47.000 lao động tham gia.
Đây là những mục tiêu tăng trưởng lớn, đòi hỏi nhiều giải pháp được triển khai đồng bộ. Trước hết, tỉnh xác định phát triển nuôi biển phải dựa trên quy hoạch không gian biển và sức tải môi trường, không chạy theo sản lượng bằng mọi giá. Hiệu quả kinh tế tổng thể, giá trị gia tăng và sinh kế bền vững cần trở thành thước đo; ưu tiên các mô hình đã chứng minh hiệu quả, có thị trường tiêu thụ và khả năng nhân rộng.
Tiếp đó là chuyển đổi công nghệ theo lộ trình, kiểm soát chất thải, thức ăn dư thừa và dịch bệnh; bảo vệ đa dạng sinh học, nguồn lợi giống tự nhiên. Các mô hình nuôi đa tầng dinh dưỡng hoặc giải pháp tuần hoàn được đặt ra theo hướng nghiên cứu, áp dụng khi có đủ cơ sở khoa học, kỹ thuật và hiệu quả kinh tế.
Đặc biệt, phát triển nuôi biển cần chuyển từ những cơ sở sản xuất riêng lẻ sang chuỗi giá trị liên kết từ giống, thức ăn, nuôi thương phẩm, thu hoạch, sơ chế, chế biến, logistics đến tiêu thụ. Trong chuỗi đó, doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức nghề nghiệp có vai trò kết nối sản xuất, tiêu chuẩn hóa chất lượng và mở rộng thị trường.
Những định hướng này càng có ý nghĩa khi ngành nuôi biển vẫn đối mặt với khó khăn về cơ chế, chính sách và thủ tục. Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, dù các quy định về giao khu vực biển đã được điều chỉnh qua các nghị định, quá trình triển khai trên thực tế vẫn còn bất cập cần tiếp tục rà soát, tháo gỡ. Một số chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản khó tiếp cận; cơ chế khuyến khích đầu tư nuôi biển công nghệ cao và nuôi biển xa bờ chưa đủ thuận lợi để thúc đẩy người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chuyển đổi.
Bên cạnh hoàn thiện cơ chế, việc đào tạo nguồn nhân lực cũng là yêu cầu không thể bỏ qua. Công nghệ hiện đại không chỉ cần vốn đầu tư mà còn đòi hỏi người vận hành có kiến thức, kỹ năng quản lý và khả năng xử lý các tình huống phát sinh. Năng lực tiếp cận công nghệ giữa các nhóm người nuôi hiện chưa đồng đều, vì vậy cần có lộ trình hỗ trợ phù hợp, nhất là đối với các cơ sở sản xuất nhỏ.
Mặt khác, phát triển nuôi biển phải gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, bảo đảm an toàn lao động, an toàn hàng hải, quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo. Quản lý nhà nước cũng cần chuyển theo hướng công khai, minh bạch và dựa trên dữ liệu, đồng thời hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ thủ tục giao khu vực biển, đăng ký nuôi và cấp mã số cơ sở nuôi.
Từ thực trạng hiện nay đến mục tiêu năm 2030 là một chặng đường không dài. Sản lượng tăng trưởng, các dự án đầu tư và những nghiên cứu công nghệ đã tạo nền tảng ban đầu, nhưng kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào khả năng giải quyết đồng thời các điểm nghẽn về quy hoạch, công nghệ, vốn, nhân lực, môi trường và thị trường.
Tầm nhìn đến năm 2045 vì thế không chỉ là mở rộng quy mô nuôi biển. Đó còn là quá trình tổ chức lại ngành sản xuất dựa trên điều kiện tự nhiên của từng vùng, lựa chọn đúng đối tượng nuôi, ứng dụng công nghệ phù hợp và tạo lập chuỗi giá trị có khả năng duy trì hiệu quả lâu dài.
Với An Giang, biển rộng và hệ thống đảo phong phú là lợi thế quan trọng, nhưng không tự bảo đảm thành công. Điều quyết định là cách tỉnh quản lý và sử dụng không gian biển, cách doanh nghiệp đầu tư, cách người dân chuyển đổi sản xuất và cách các chủ thể liên kết để đưa sản phẩm từ vùng nuôi đến thị trường.
Nuôi biển chỉ có thể trở thành một trụ cột kinh tế bền vững khi tăng trưởng sản lượng đi cùng hiệu quả kinh tế, sinh kế của người dân và sức khỏe của hệ sinh thái biển. Đó cũng là điều kiện để tham vọng trở thành trung tâm nuôi biển hiện đại, xanh và thông minh của An Giang có nền tảng vững chắc hơn trong những thập niên tới.
Mục tiêu nuôi biển An Giang đến năm 2030
Thực hiện: Đức Bình / Nguồn ảnh: Tư liệu và từ Internet.